Hiện đại hóa trở thành ưu tiên kinh doanh trước khi hệ thống gặp sự cố

TRONG BÀI VIẾT NÀY

Một hệ thống không cần phải hỏng mới trở thành vấn đề của doanh nghiệp. 

Một hệ thống doanh nghiệp vận hành lâu năm vẫn có thể thực hiện tốt các chức năng cốt lõi, nhưng đồng thời ngày càng khó thay đổi, khó tích hợp, khó bảo mật hoặc khó mở rộng. Hiện đại hóa trở thành ưu tiên kinh doanh khi những giới hạn này bắt đầu ảnh hưởng đến tốc độ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu mới, theo đuổi cơ hội tăng trưởng hay triển khai năng lực mới. 

Vì vậy, quyết định không nên chỉ xuất phát từ tuổi thọ của công nghệ. Câu hỏi hữu ích hơn là hệ thống hiện tại có còn mang lại cho doanh nghiệp sự linh hoạt cần thiết cho chặng đường phía trước hay không. 

Khi nào hiện đại hóa trở thành ưu tiên kinh doanh? 

Hiện đại hóa trở thành ưu tiên kinh doanh khi những giới hạn của hệ thống hiện tại bắt đầu chi phối các quyết định kinh doanh, dù bản thân hệ thống vẫn hoạt động bình thường. 

Sự phân biệt này ngày càng quan trọng khi vai trò của công nghệ doanh nghiệp chuyển từ việc duy trì ổn định vận hành sang tạo ra kết quả kinh doanh đo lường được. 79% lãnh đạo công nghệ xem việc thúc đẩy kết quả kinh doanh là ưu tiên hàng đầu, phản ánh một dịch chuyển rộng hơn: từ chỗ chỉ “vận hành công nghệ” sang dùng công nghệ để tạo giá trị cho doanh nghiệp.  

Với một nền tảng doanh nghiệp đã trưởng thành, các dấu hiệu cảnh báo vì thế có thể xuất hiện từ rất lâu trước khi xảy ra sự cố ngừng hoạt động hay hỏng hóc lớn. Chúng thường thể hiện qua chu kỳ bàn giao dài hơn, khối lượng công việc cho mỗi thay đổi tăng lên, tích hợp khó khăn, phụ thuộc nhiều hơn vào kiến thức chuyên biệt, hoặc các bộ phận kinh doanh phải tự xoay xở quanh giới hạn của nền tảng. 

Đến lúc đó, hiện đại hóa không còn là chuyện riêng của bộ phận IT. Nó trở thành câu hỏi liệu hạ tầng công nghệ hiện có còn đủ sức hỗ trợ định hướng phát triển của doanh nghiệp hay không. 

Vì sao “hệ thống vẫn chạy tốt” không còn đủ 

Ổn định vận hành vẫn quan trọng, nhưng nó chỉ trả lời được một câu hỏi: hệ thống có thể tiếp tục làm những gì nó đang làm hôm nay không? 

Hiện đại hóa đòi hỏi trả lời một câu hỏi khác: hệ thống có thể hỗ trợ hiệu quả những gì doanh nghiệp cần làm trong tương lai không? 

Hệ thống vẫn có thể hoạt động khi… …nhưng lại ngày càng khó phát triển vì 
Các giao dịch hiện tại vẫn được xử lý bình thường Yêu cầu mới đòi hỏi nỗ lực kỹ thuật quá lớn so với giá trị mang lại 
Các quy trình hiện có vẫn ổn định Nhiều năm logic tùy biến và các phụ thuộc chồng chéo khiến tác động của thay đổi khó lường 
Người dùng hiện tại vẫn làm được việc của mình Sản phẩm, thị trường hoặc mô hình vận hành mới đòi hỏi hàng loạt giải pháp chắp vá 
Hạ tầng vẫn sẵn sàng Yêu cầu về tích hợp, bảo mật và bảo trì đã thay đổi 
Các ứng dụng hiện có đáp ứng nhu cầu hôm nay Kiến trúc ngày càng khó thích ứng với những ưu tiên trong tương lai 

Chính khoảng cách giữa sự ổn định và khả năng thích ứng là nơi hiện đại hóa bước vào chương trình nghị sự của doanh nghiệp.Khi công nghệ nền tảng trở nên khó thay đổi, ràng buộc đó vượt ra khỏi bộ phận IT và lan sang chính quá trình chuyển đổi.  

Những dấu hiệu sớm cho thấy cần tính đến hiện đại hóa 

Các tín hiệu rõ nhất thường xuất hiện trong hoạt động kinh doanh thường ngày, chứ không phải trong những sự cố kỹ thuật lớn. 

Thay đổi trở nên khó khăn quá mức. Những yêu cầu trông khá đơn giản lại cần phân tích, kiểm thử và phối hợp ngày càng nhiều, bởi tác động lan truyền của chúng rất khó lường. 

Nguồn lực kỹ thuật dồn nhiều hơn vào việc duy trì hiện trạng. Các lập trình viên dành khoảng 33% thời gian để xử lý việc bảo trì nợ kỹ thuật, trong khi tới 70% lãnh đạo công nghệ coi nợ kỹ thuật là rào cản đối với đổi mới.  

Kiến thức về hệ thống tập trung vào rất ít người. Những quy tắc nghiệp vụ quan trọng, các phụ thuộc hay quyết định thiết kế trong quá khứ chỉ có thể được giải thích chắc chắn bởi một số ít kỹ sư lâu năm, nhà cung cấp hoặc chuyên gia nghiệp vụ. 

Các bộ phận kinh doanh bắt đầu lách qua hệ thống. Yêu cầu mới bị trì hoãn, quy trình thủ công được đưa vào, phạm vi sản phẩm bị thu hẹp, hoặc các sáng kiến kinh doanh được thiết kế dựa trên những gì nền tảng có thể đáp ứng. 

Khi doanh nghiệp bắt đầu điều chỉnh quyết định kinh doanh vì cho rằng thay đổi công nghệ là quá khó, quá tốn kém hay quá rủi ro, quan hệ giữa kinh doanh và công nghệ đã bắt đầu đảo ngược: 

Thay vì công nghệ thích ứng với kinh doanh, chính kinh doanh phải thích ứng với công nghệ. 

Vì sao tăng trưởng thường làm lộ ra vấn đề 

Giới hạn của hệ thống không phải lúc nào cũng dễ thấy khi môi trường vận hành còn tương đối ổn định. 

Tăng trưởng làm thay đổi điều đó. 

Bước vào một thị trường mới có thể kéo theo những quy tắc nghiệp vụ khác. Một sản phẩm mới có thể cần đến các năng lực mà kiến trúc ban đầu chưa bao giờ tính tới. Một thương vụ mua lại có thể buộc phải tích hợp với một hạ tầng công nghệ khác. Tệp khách hàng ngày càng lớn có thể tạo ra yêu cầu mới về dữ liệu, báo cáo, kiểm soát truy cập hay tự động hóa quy trình. 

Nền tảng hiện tại có thể vẫn đảm đương rất tốt khối lượng công việc hôm nay. 

Nhưng năng lực xử lý của hệ thống và khả năng thích ứng của hệ thống là hai điều khác nhau

Một hệ thống có thể đủ năng lực cho hoạt động hôm nay nhưng lại đòi hỏi nỗ lực quá lớn để đáp ứng mô hình kinh doanh của ngày mai. 

Đó là lý do hiện đại hóa thường trở nên cấp thiết hơn trong giai đoạn mở rộng. Vấn đề không hẳn là nền tảng hiện tại về mặt kỹ thuật không thể hỗ trợ tăng trưởng. Vấn đề là nỗ lực, thời gian và rủi ro cần bỏ ra để nó hỗ trợ được tăng trưởng đó có thể không còn hợp lý về mặt thương mại. 

Sự phân biệt này cũng giải thích vì sao hiện đại hóa ngày càng tập trung vào các ứng dụng nghiệp vụ cốt lõi chứ không chỉ vào công nghệ tiếp xúc với khách hàng. Các tổ chức đang dành 59% ngân sách hiện đại hóa cho hạ tầng và ứng dụng cũ đang sử dụng, trong đó các ứng dụng back-end cốt lõi vẫn là ưu tiên hiện đại hóa cao nhất.  

Doanh nghiệp nên quyết định thế nào về việc có cần hiện đại hóa?

Quyết định hiện đại hóa nên bắt đầu từ những ràng buộc kinh doanh của môi trường hiện tại, chứ không từ một công nghệ được ưa thích. 

Bốn câu hỏi sau là điểm khởi đầu thiết thực: 

Mức độ trọng yếu với kinh doanh: điều gì không được phép gián đoạn? 
Hãy xác định những quy trình, dữ liệu và năng lực mà doanh nghiệp phụ thuộc vào và phải tiếp tục hoạt động trong suốt quá trình hiện đại hóa. 

Vướng mắc khi thay đổi: hệ thống hiện tại đang làm chậm doanh nghiệp ở đâu? 
Hãy xem xét thời gian đưa một bản phát hành ra thực tế, khối lượng bảo trì, hàng chờ công việc, độ khó khi tích hợp và những giải pháp chắp vá lặp lại, thay vì chỉ nhìn vào tuổi thọ hệ thống. 

Mức độ phụ thuộc hệ thống: doanh nghiệp có thể nắm chắc tác động của một thay đổi đến đâu? 
Doanh nghiệp càng ít nhìn rõ các quy tắc nghiệp vụ, các phụ thuộc và kiến thức về hệ thống thì mức độ bất định quanh việc hiện đại hóa càng lớn. 

Mức độ phù hợp với tương lai: những ràng buộc nào hiện nay sẽ quan trọng nhất khi doanh nghiệp phát triển? 
Ưu tiên hiện đại hóa nên phản ánh giai đoạn tiếp theo của doanh nghiệp, thay vì chỉ sửa mọi vấn đề kỹ thuật tồn đọng từ trước. 

Hiện đại hóa nên là ưu tiên trước khi sự cố bộc lộ 

Khi hệ thống hiện tại bắt đầu quyết định doanh nghiệp phản ứng nhanh đến đâu, có thể theo đuổi những cơ hội nào, hay cần bỏ ra bao nhiêu nỗ lực để bổ sung năng lực mới, thì hiện đại hóa đã vượt xa phạm vi một cuộc thảo luận công nghệ. 

Vì vậy, câu hỏi tiếp theo không phải là: 

“Công nghệ nào nên thay thế hệ thống hiện tại của chúng ta?” 

Mà là: 

“Những phần nào của hệ thống hiện tại đang gây ràng buộc lớn nhất cho hướng đi mà doanh nghiệp cần theo?” 

Đó là điểm khởi đầu hữu ích hơn cho hiện đại hóa—và là luận cứ kinh doanh vững chắc hơn nhiều so với việc chỉ dựa vào tuổi thọ hệ thống. 

Trước khi quyết định thay thế cái gì, hãy hiểu rõ điều gì thực sự đang giới hạn doanh nghiệp.

Sẵn sàng biến hiểu biết thành hành động?

Hãy chia sẻ thách thức của bạn! Chúng ta sẽ cùng tìm ra giải pháp phù hợp.

Gửi tin nhắn cho chúng tôi